ÂM THANH HỘI THẢO

Input phụ, hiệu ứng trở lại

Những điều khoản aux. loop và effect loop, như đã đề cập trước đây, nói về tuyến đường tín hiệu liên quan đến cả hai: send lẫn return. Tín hiệu return, có nhiều dạng điều chỉnh, sau đó sẽ có sẵn đề mix lại theo ý muốn.\

 

Input phụ, hiệu ứng trở lại

Lẽ ra, trong việc kiểm soát tín hiệu return từ những thiết bị effect, nên sử dụng bằng một input channel tiêu chuẩn, chỉ vì nó kiểm soát những tín hiệu quay trở lại nhiều hơn. Khi có quá nhiều input channel bận bịu cho những đường tín hiệu đến từ sân khấu, sử dụng auxiliary để thay thế. Hầu hết mixer không ưu tiên việc thiết kế thêm nhiều input, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một pot xoay để kiểm soát. Điều này đôi khi có thể đưa người vận hành vào thế bất lợi khi kiểm soát tín hiệu effect return, vì sẽ không thể kiểm soát EQ của tín hiệu return, và cũng vi pot xoay trên phần master nói chung sử dụng kém thuận lợi hơn fader tuyến tính của channel input tiêu chuẩn.

 

Chức năng Key input channel

input phụ hiệu ứng trở lại

Chức năng Key input channel, cần phải kiểm tra lại trước khi bắt đầu biểu diễn hay sự kiện.

(A) Switch lựa chọn Mic/line và on/off channel (nếu có). Trên mixer không có switch on/off, switch lựa chọn mic/line thường dùng để chuyển đổi một channel in hay out khi cần. Như trường hợp bật hay tắt micro không dây, hay bị thay đổi bởi người khác trên sân khấu. Rõ ràng cần chú ý đến trạng thái của switch.

(B) Nguồn Phantom, Input pad và gain. Hình trên bên trái, switch phantom power (trong trường hợp này có tên 48VDC) sẽ không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho một micro dynamic tiêu chuẩn. Nhưng, bất cứ khi nào bật switch này, đôi khi sẽ nghe qua hệ thống một tiếng pop lớn nếu có dây micro cắm vào sau khi hệ thống đã power on. Rõ ràng, nếu sử dụng remotely powered direct box hay micro, cần phải ở đúng tư thế này. Switch pad bổ sung đôi khi là một vấn đề. Nếu nó tham gia trong quy trình kiểm tra, hay lúc bức thiết gặp phải tín hiệu cao bất ngờ trong một sự kiện, nó nên tham gia trong lúc sự kiện tạm lắng. Trong khi đó, có thể vặn ngược gain lại thấp nhất thay vì sử dụng fader, trừ khi trong trường hợp khẩn cấp hay bạn đang nghe tín hiệu bị méo, kết quả của tín hiệu quá mức. Khi tắt switch pad, quay núm input gain trở lại một chút trước khí làm như vậy, để tránh tín hiệu bị quá mạnh gây ra khó chịu. Sau đó, nếu cần, đưa gain hay fader trở lại dần dần cho đến khi thấy mức độ thích hợp.    

(C) Lựa chọn Aux pre-fader hay post-fader, nếu có. Khi kiểm tra monitor bằng mixer FOH, pad này sẽ ở vị trí pre.

(D) Assign (gán) Pan/submaster, nếu có. Quá rõ, nhu cầu này cần kiểm tra lại để bảo đảm mỗi tín hiệu đều được gởi đi qua bus phù hợp. Pan trái để sang submasters số lẻ; Pan phải để sang submasters số chẵn.

(E) Khi sử dụng bất kỳ PFU/Solo nào để theo dõi mức độ của channel trong meter chính, cần thực hiện kỹ lưỡng để chỉ có một switch PFL tham gia, sẽ có giải thích khi kết hợp cùng với các channel khác. (Dĩ nhiên, nếu sử dụng head phone, có thể nhận ra sai sót. Nhưng ngay cả có head phone, đôi khi có đủ cross-pickup (thu chồng chéo) giữa micro trong buổi biểu diễn live, có thể có sai sót như vậy).

(F) Bắt đầu kiểm tra âm thanh với faders và/hay input gain tại hay gắn thiết lập (setting) thấp nhất của nó, rồi dần dần đưa lên đến một thiết lập trung bình thoải mái. Vị trí trung bình tối ưu cho faders thay đổi tùy theo từng mixer. Thường nhất là nó là khoảng 3/4 khoảng chạy, cho phép dù không gian để boost cho vocal chính/nhạc cụ hay để bù đắp cho mức tín hiệu khác. Hầu hết mixer sẽ có vài loại đường phân chia cho những vị trí trung bình được đề nghị tối ưu, nhưng không có quy tắc bất di bất dịch. Cuối cùng, dĩ nhiên, thực hiện cái gì cần phải làm để hoàn thành bất kỳ công việc cụ thể nào.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trước khi bắt đầu kiểm tra âm thanh, mọi người nói chung là thích cài đặt tất cả cần gạt control EQ (không minh họa ở đây) ở vị trí flat của nó. Dĩ nhiên, khi bắt đầu sự kiện thực tế, hãy kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn không bị sót lại bất cứ thiết lập nào trong quy trình kiểm tra.

 

ADAPTER CHO TS 900 TOA AD 0910

ADAPTER CHO TS 900 TOA AD 0910

Đầu ra 9 V DC, 1 A

Ripple áp 100 mV (p-p)

Công suất tiêu thụ 400 mA AC, đầu vào 100 V

Chiều dài dây 1,8 m

Cắm RC6705, trung tâm "" +


 

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)