Vài yếu tố chung để làm cân bằng (equalizing)


Những đáp tần tổng thể tạo ra bởi sự kết hợp của những đường biểu diễn đáp tần qua hệ thống, từ nguồn âm thanh vào micro qua hệ thống đến loa, và xa hơn nữa, vào lĩnh vực nghe của khán giả.

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng

Phải nghe mọi sự thay đổi cân bằng cho giọng nói, nhạc cụ để so với những phẩm chất âm sắc của những tín hiệu input khác, sẽ được trộn (mix) lại. (Nói cách khác, sự thay đổi bởi EQ cho toàn bộ hỗn hợp mix thường có thể giải quyết nhiều vấn đề âm sắc. Nhưng những thay đổi riêng thực hiện trên những tín hiệu input hay subgroup sẽ thay đổi những âm thanh chủ yếu so với các âm thanh khác trong hỗn hợp này. Thí dụ: Giảm âm suỵt (sibilance) của giọng hát thật sự có thể làm cho tiếng cymbals nghe tốt hơn; tăng mid-range cho giọng hát (vocal) và nhạc cụ có thể làm cho mid-range của âm thanh trống bị che đi (masked), v.v..

Sự điều chỉnh EQ thường sẽ có tác dụng tốt hơn ở những tần số trung tâm hay tần số shelving (bao nhiêu thì phụ thuộc vào từng EQ cụ thể). Thí dụ, boost control shelving 80Hz cũng có thể ảnh hưởng lên đáp ứng 250Hz hay lớn hơn. Cho thí dụ khác, boost control peaking 2k để tăng độ trong của giọng nói, cũng có thể là nếu boost 4k thích đáng cũng gây ra vài mức độ thô ráp, v.v. Việc làm mức độ nhỏ đi này cũng áp dụng cho EQ graphic và EQ phía ngoài (outboard) khác.

Khi đường biểu diễn đáp ứng của những thiết kế microphone khác nhau có thể bị thay đổi nhiều, nhu cầu về EQ có thể thay đổi lớn tùy theo từng micro. Thông thường để thu kết quả tốt hơn, thay thế bằng microphone có đường đáp tuyến thích hợp hơn. Trong nhiều trường hợp, những âm thanh đúng ý có thể đạt độ chặt chẽ hơn, đơn giản bằng cách thay đổi vị trí microphone để có được mô hình phù hợp cho nguồn âm thanh hơn.

Chất giọng khác nhau thường yêu cầu cách điều chỉnh khác nhau, mỗi loại trống thường đòi hỏi điều chỉnh khác với cái khác, v.v. Thí dụ, thông thường, chúng ta yêu cầu boost low-end để mang lại độ sâu của trống bass hay tom bass, nhưng tuỳ thuộc vào đáp ứng của toàn hệ thống, đáp ứng micro, và âm thanh thực tế của trống, trong vài trường hợp, thật sự có thể cần phải cut đi những tần số thấp trên EQ onboard. Vì vậy, không phải luôn thực hiện quy tắc bất di bất dịch nào trong mọi trường hợp, ngoại trừ quy tắc chung về ngón tay cái.

 

Tần số liên quan tới chất lượng chủ quan.

Dưới đây cho thấy vài thí dụ về tần số liên quan đến chất lượng chủ quan như mô tả trong một nghiên cứu chính thức được thực hiện bởi tác giả, và nói chung tất cả thường đồng ý với kinh nghiệm của tác giả. Vì nó khá chủ quan, dĩ nhiên nó dễ thành chủ đề tranh cãi. Bảng dưới đây chỉ nhằm mục đích hướng dẫn.

Tần số                 Chất lượng

31.5Hz                Một sự mở rộng giải tần của chương trình âm nhạc điển hình có ít hay không có năng lượng trong giải 20 - 32Hz. Nói chung giải này này chỉ cần thiết cho những hiệu ứng đặc biệt. Hệ thống loa rất khó nhân bản có hiệu quả ở cấp độ đáng kể, đặc biệt là trong các ứng dụng pro-sound.

40--50                Quá nhiều năng lượng trong giải 40Hz -100 Hz; murky (tối, đục), muddy, hay khoảng 80 đến 100 Hz, bùm-boomy.

63Hz--80            Quá ít năng lượng trong giải 40Hz - 100 Hz: tiếng đạp trống kick thiếu, bass thiếu chiều sâu hay giá trị nằm ở nốt nhạc thấp.

100--125Hz

160--                  Quá nhiều năng lượng trong giải 100Hz - 250 Hz; boomy, muddy, hay quá dày.

200- 250Hz        Quá ít năng lượng trong khoảng 100Hz - 250Hz: nhạc cụ treble, voice hay trống snare thiếu chiều sâu hay độ dày. Quá ít trong khoảng 200Hz v.v; guitar bass hay dây đàn bass thiếu độ tròn tiếng.

315 - 400        Quá nhiều năng lượng trong giải 250Hz - 630Hz; cloudy, boxy, hay đục (opaque)

500Hz               Quá nhiều năng lượng trong biên độ hẹp từ 500 đến 800Hz, giống tiếng mega-phone.

630--                   Quá ít năng lượng qua giải 250 - 630Hz; trống rỗng, thiếu đầy (fullness), vững vàng hay độ rộng (breadth), hay (đối với 800Hz) thiếu độ chắc (solidness).

800                    Quá nhiều năng lượng trong giải 630Hz - 1,200Hz; honky, quá cứng (hard), hay (khi cực đại) giống tiếng điện thoại.

1kHz                    Quá ít năng lượng trong giải 630 - 1200Hz: thiếu fullness hay solidness đầy đủ.

1.25kHz               Quá nhiều năng lượng trong giải 1kHz đến 2kHz: quá cứng hay ( 2k) blary,

1.6kH—2kHz      Quá ít năng lượng trong giải 1kHz đến 2kHz: thiếu rõ nét hay đủ độ cứng.

2.5kH—              Quá nhiều năng lượng trong giải 2kHz đến 4kHz; blary, tinny, trebly hay brash.

3.15kHz            Quá ít năng lượng trong giải 2kHz đến 4kHz, thiếu rõ ràng hay bite (khoảng4k).

4kHz—                   Quá nhiều năng lượng trong giải 4kHz - 6kHz: quá gay gắt (harsh), sắc hay brash.

5khz                       Quá ít năng lượng trong giải 4kHz - 6kHz: thiếu cạnh đặc biệt, đôi khi nghe như thiếu độ rõ hay chặt chẽ (bite).

6.3kH—                Quá nhiều năng lượng trong giải 6.3kHz và lên trên; tiếng suýt quá nhiều gây khó chịu

8kHz 10kHz—      Quá ít năng lượng trong giải 6.3kHz và lên trên; không nghe được tiếng suýt (S, T , Z) thiếu tiếng zip hay sweetness (tiếng zip ở 6.3-8k, sweetness ở 8k và lên trên.

12.5kHz
16.5kHz-                Giải này thường là giới hạn cực thính giác cho người lớn cố tai rất tốt.

 

Đường biểu diễn của loại EQ kết hợp (combining type)

vài yếu tố chung để làm cân bằng (equalizing)

Một EQ đã boost ba band kề nhau ở đây chỉ dùng cho mục đích minh họa. Lưu ý, những band kề nhau có cùng tác động để tạo thành một đường biểu diễn bao quát hơn. Đây không phải là trường hợp của EQ không kết hợp, mà sẽ đánh dấu trong đường biểu diễn sự kết hợp. Đa số EQ graphic thương mại hiện nay là loại kết hợp. Tuy nhiên, cách có đường biểu diễn EQ trung bình tốt nhất là vị trí của những slider phải ở giữa, như minh họa dưới đây.

Thường gặp loại không kết hợp là EQ, có nhiều band chồng chéo lên nhau quá mức, thường là đặc trưng của EQ 2/3 octave và 1/3 octave rẻ tiền (vì filter kém chất lượng). Ở đây, đôi khi cần phải bù thêm một chút theo hướng ngược lại ở band liền kề nó, (cần phải tăng sự nhấn giọng lên một chút, ít khi thực hiện việc di chuyển triệt để những band liền kề theo chiều ngược nhau, nếu có. Ngoại lệ đối với điều này khi chúng ta đang cố ý cắt giảm những đáp ứng ở hai cực âm phổ).

vài yếu tố chung để làm cân bằng (equalizing)

Cài đặt có vấn đề nếu hầu hết slider đều ở vị trí cắt.

vài yếu tố chung để làm cân bằng (equalizing)

Cài đặt tương tự có vị trí hiệu quả hơn, bình quân là gần giữa trên hầu hết âm phổ.

 

Equalizer Peavey EQ - 215

 

Equalizer Peavey EQ - 215

 

Các PV® 215EQ kép 15 band EQ 1/3 octave đồ họa là một rack đơn vị không gian duy nhất đó là một giải pháp đơn giản và cân bằng giá cả phải chăng . Lựa chọn giữa 6 dB 12dB hoặc cắt hoặc tăng về tần số từ 25 Hz đến 16 kHz. Thấp cắt lọc chuyển đổi với đèn LED trạng thái sẽ giúp loại bỏ rumble từ mở hệ thống mic đơn giản.

 

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)