Cách sử dụng tổng quát EQ để điều khiển âm sắc

EQ đã kiểm soát cao độ âm hay cấu trúc họa âm tương đối ít, được thiết lập phần lớn bởi những phân tử dao động của nguồn âm thanh, do đó lần lượt cũng bị ảnh hưởng bởi cách thức: lựa chọn, làm nổi bật, hay mặt khác, đặt nó trong sự chuyển động.

 

Những gì Equalizer có thể điều khiển

Nếu, vì lý do nào đó, đặc tính cộng hưởng hoàn toàn thay đổi tùy theo từng nốt nhạc (điều này thỉnh thoảng xảy ra với tiếng nói), có ảnh hưởng thực tiễn tương đối nhỏ mà EQ có thể làm cân bằng lại. Việc tất cả chúng ta có thể làm là tìm ra thiết lập (setting) trung bình hợp lý.

Điều chỉnh, hay trong vài trường hợp, thay đổi hoàn toàn, những cảm nhận về đặc điểm âm sắc của thiết bị có sự cộng hưởng (thí dụ, guitar thùng, vỏ ngoài trống, chuông clarinet, v.v) khi phân biệt với các phần tử dao động (thí dụ, dây đàn, mặt trống, nhạc khí có lưỡi gà, v.v). Những đặc tính cộng hưởng của nhạc cụ tham gia chủ yếu ở những tần số từ low đến mid-range. Cho một thí dụ đơn giản, nếu âm thanh nói chung quá mỏng, chúng ta có thể làm nó dày lên, và ngược lại.

Giảm sự cộng hưởng tạo ra vài note nhạc nổi bật hơn những note khác. (Điều này yêu cầu phải chèn (insert) một notch filter hay EQ linh hoạt phía ngoài (flexible-outboard) khác).

Trên nhạc cụ như bộ trống (chỉ có một cao độ cơ bản, trừ Roto-Toms và trống tương tự), EQ có thể lấy ra hay giảm những bội âm cơ bản và thấp (thông thường ở những tần số thấp khoảng 250Hz) để thêm hay bớt đi chiều sâu. Chúng ta cũng có thể làm giảm những bội âm cao hơn ở đây, nếu nó hiện diện, điều này tham gia ở lower mid-range, thường từ khoảng 300Hz đến 600Hz. Trong giải upper mid-range và high là những âm thanh dùi tiếp xúc với mặt trống mà chúng ta đã gặp phải, và dĩ nhiên EQ kiểm soát âm thanh vẻ mặt này rất đáng kể.

EQ có thể thêm hay bớt đi những tần số cạnh biên, thí dụ, tiếng nẩy (bite) của dây guitar hay đàn bass, nhiều loại tiếng nổ (snap) của âm thanh trống, những âm bén hay âm suỵt của tiếng nói. Việc này tham gia ở những tần số cao. Đây là nơi vai trò của yếu tố dao động thường tham gia độc lập với sự cộng hưởng, vì hầu hết nhạc cụ chỉ có sự cộng hưởng tương đối ít ở tần số cao. Nhưng một lần nữa, nó có vấn đề với những phần tử dao động, thí dụ, với một số tiếng vo vo (buzzes) thì EQ có thể giảm thiểu nó, nhưng sẽ bị hy sinh và mất đi những âm bén thông thường hay tiếng nảy của âm thanh nhạc cụ.

Bảng 1: Giải tần của âm nhấn giọng với âm thanh vocal thông thườn

Âm thanh vocal         Giải tần

Ooh (whispered)          Khoảng 125 - 300Hz với lượng năng lượng cao nhỏ

Uh (whispered)            Khoảng 160 - 400Hz với lượng năng lượng cao nhỏ

Aahh (whispered)        Khoảng 200 - 500Hz với lượng năng lượng cao nhỏ

K(không nguyên âm)  Khoảng 500 - 2.000Hz với lượng năng lượng ở trên và ở dưới nhỏ

Ch(không nguyên âm) Khoảng 2.000 -6.000Hz với lượng năng lượng tần số thấp hơn nhỏ

S (không nguyên âm) Khoảng 4.000-12.000Hz với lượng năng lượng tần số thấp hơn nhỏ

Bảng 1 cho thấy tầm quan trọng của những giải âm chính có thể nghe được với vài âm thanh vocal phổ biến (gần giống với tiếng khi thì thầm-whispered).

 

Bảng 2 Liên kết với âm thanh nguyên âm cơ bản.

Âm thanh nguyên âm               Giải tần

Oooh, U sâu                               Khoảng 100 - 250Hz

o                                                    Khoảng 200 - 400Hz

Ahh                                               Khoảng 300-600Hz

A                                                   Khoảng 500-1.000Hz

E                                                   Khoảng 800Hz- 2kHz

Eeeee (chipmunky?)                Khoảng 1.6kHz trở lên

Bảng 2 cho thấy có thể thực hiện những liên kết với vài âm thanh nguyên âm cơ bản (liên quan đến giải tần chính của sự nhấn mạnh cộng hưởng trong khoang miệng, không phải là phát âm cao độ của hợp âm).

Như có thể thấy, có sự chồng chéo lên nhau giữa những giải gần đúng với những liên kết về cao độ, chủ yếu là do những nguyên âm này không phải là loại bất di bất dịch, và hiếm khi tự nó nói rõ được. Nó thường kết hợp với âm thanh nguyên âm và bởi những phụ âm khác trong cách cá thể nhận biết là một từ hay âm tiết, tất cả đều liên quan đến nhiều sự thay đổi cao độ phức tạp và sự cộng hưởng trong miệng.

 

Đường biểu diễn đáp ứng điển hình của EQ

Đường biểu diễn đáp ứng điển hình của EQ (10 band) loại một bát độ tại điểm boost 3dB, 6dB và 9dB, kết quả là sự thay đổi phản ứng đồng phase thể hiện trong B, Sự thay đổi đồng phase gây ra bởi cut hay boost là chuẩn, vá là đặc trưng của tất cả EQ hiện đang có sẵn. Đây có phải là vấn đề không? Tuyệt đối không, trừ khi tình huống có sự tham gia về thử nghiệm điện từ rất quan trọng. Những biến thể trong sự quan hệ đồng phase giữa những tần số là phần tự nhiên của môi trường âm thanh bình thường. Sự thay đổi lớn này thường từ hành vi đơn giản như dịch microphone đi một chút so với vị trí của nguồn âm thanh biến thể. Đồng thời, âm thanh phát ra từ những nguồn này, như đã đề cập trong chương 2, thường kết hợp theo loại kết hợp đa dạng. EQ có lý do của nó, nếu cần phải sử dụng. Người nghe nhạy cảm với chất lượng âm sắc hơn là phase tương đối.

 

Mặt bảng điều khiển điển hình của EQ 1/3-octave đôi.

Lưu ý switch lựa chọn (ghi là Scale) cho phép lựa chọn giữa cut/boost 6dB và 12dB. Nếu thiết lập 6dB sẽ cho phép kiểm soát tác động của những fader tốt hơn khi không bắt buộc phải cắt hay tăng nhiều. Về kỹ thuật, EQ 1/3 bát độ hay 1/6 bát độ được coi như bộ EQ bảng thông rộng, mặc dù sự phần chia phổ âm bao phủ bởi mỗi band, EQ có band hẹp thật sự có thể bao gồm giải tần số chỉ 3 hay 4Hz cho mỗi band, và chỉ được sử dụng để bớt chú trọng cộng hưởng hiển nhiên trong một hệ thống hay phòng cụ thể.

 

Equalizer DBX iEQ31

Equalizer DBX iEQ31

Equalizer DBX iEQ31 kiểm soát thông tin phản hồi và tính linh hoạt tối đa âm thanh trong một giao diện phía trước thẳng và xây dựng vững chắc.

Các dbx iEQ-31Equalizer là một bộ cân bằng mà cung cấp tính toàn vẹn âm thanhvượt trội. EQ hiệu suất và thông số kỹ thuật tương tự với một cái nhìn và cảm nhận.Từ 10Hz đến 22kHz tuyệt vời của nó đáp ứng tần số, phạm vi năng động của nó tới113dB, dbx độc quyền loại V ™ giảm tiếng ồn và PeakStopPlus ® hạn chế, cácEqualizer iEQ-31 cung cấp chi tiết kỹ thuật này ra khỏi thế giới với một mức giá rất rẻ.

Tận dụng lợi thế của đàn áp phản hồi nâng cao (AFS ™) được cung cấp bởi cáciEQ-31 có hiệu quả loại bỏ thông tin phản hồi trong khi duy trì mức độ mic. Bạn có thể chọn 15-băng tần kép 2 / 3 quãng tám iEQ-15, hoặc hai băng tần 31-1 / 3 quãng támiEQ-31. Cả hai tính năng chuyển đổi 6 hoặc 15 dB tăng / giảm nhiều, faders 40mm,XLR, ¼ "và Euro khối đầu vào và đầu ra và nhiều hơn nữa!

 

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)