THIET BI AM THANH

Nhịp và sự khác biệt âm sắc (Beats and Difference Tones)


Đây là một phần rất quan trọng đối với những người học hay đơn thuần là có hứng thú về ngành âm thanh.

 

Thử nghiệm hai máy phát sóng sine

Tưởng tượng đang sắp đặt thử nghiệm, trong đó hai máy phát sóng sine cho ra tone pha trộn với nhau cho người nghe. Nếu máy phát sóng âm đều xác lập cùng một tần số và biên độ, rồi trộn đồng phase với nhau hoàn hảo, kết quả có thể đo được biên độ của mỗi tone riêng lẻ gấp hai lần.

Khi tiến trình thính giác nén (compress) với cường độ khác nhau, biên độ bị nhân đôi này sẽ được cảm nhận (khi nghe ở mức độ vừa phải) là chỉ tăng rất nhẹ (+3 dB).

 

Nhịp (beat)

Nếu một trong hai máy phát sóng âm thay đổi tần số rất nhẹ, sóng sẽ dần dần rơi vào trạng thái trùng và khác phase với nhau.

nhịp và sự khác biệt âm sắc (beats and difference tones)

Điều này đưa đến sự luân phiên tăng giảm âm lượng gọi là nhịp (beat). Nhịp xảy ra theo chu kỳ bằng sự khác biệt về tần số giữa hai tone. Thí dụ, nếu một âm là 440Hz và âm khác là 442Hz, sóng sẽ rơi vào trạng thái trùng và khác phase với nhau hai lần mỗi giây. Thứ tự của sự khác biệt này giữa hai tần số quá nhỏ để cho tai có thể tách biệt nó, do đó, kết hợp những cái nghe được là một trong những tone bị thay đổi cường độ. Nhịp thường dùng để hỗ trợ cho thiết bị điều chỉnh tone (tuning) cho nhạc cụ, lý do khi nhịp chậm lại, hai tone gần trùng tần số, nên cuối cùng dừng lại khi nó hoàn toàn đồng âm sắc (tone) với nhau.

 

Âm sắc (tone)

Trong tình huống thí nghiệm này, tần số của một tone đang dần dần di chuyển càng lúc càng xa một tần số khác, điểm đến cuối cùng, tại đó nó có thể, lúc đầu hơi xơ ra (fuzzily) và sau đó rõ hơn, nghe như hai âm sắc khác biệt khá rõ. Làm sao tăng khoảng cách giữa những tần số để thính giác thấy nó phụ thuộc vào vài đánh giá riêng, cũng như sự thay đổi tùy thuộc vào những cái có liên quan đến giải tần số. Nói chung, có thể giả định là khoảng trên 1/3 bát độ giữa 2 cực của âm phổ, một ít trong giải tần số mid-range. (Sự phát hiện khoảng thời gian tối thiểu này giữa sóng sine thuần túy (không được nhầm với những nốt nhạc chơi trên nhạc cụ) có vài ngụ ý quan trọng trong pro-sound.

Vài trường hợp khác, nó có nghĩa là biến thể nhỏ trong đáp tần khoảng 1/3 bát độ với nhau, ít tác động đến sự nhận thức về chất lượng âm thanh, ở đây chúng ta không nói về đáp ứng cộng hưởng triệt để và có đỉnh quá mạnh khác, mà là biến thể có lẽ khoảng 3dB, cho dù có làm gì đi nữa. Chuẩn dung sai cộng hay trừ 3dB thường đưa ra trong thông số kỹ thuật không hoàn toàn không liên quan đến điều này).

Nếu những tone này di chuyển chưa xa nhau, sẽ có điểm khác tại tone thứ ba mà thính giả có thể nghe ngoài hai tone thật sự đang được tổng hợp (synthesized). Như đã đề cập, tiến trình thính giác tương đối vô cảm đối với những phase cụ thể quan hệ với những tần số nó nghe được. Đây là lý do tại sao một dạng sóng phức tạp có thể có vài cấu hình khác nhau mà vẫn còn âm thanh cơ bản, miễn là phổ tần số nó chứa vẫn như nhau. Cho dù tiến trình thính giác khá nhạy cảm với sự quan hệ giữa sự thay đổi phase.

Khi nghe hai tone xa nhau vừa đủ, nhịp sẽ xảy ra nhanh, đủ cho tiến trình thính giác cảm nhận những thay đổi phase của sóng sine như một tone riêng biệt (có cường độ thấp hơn nhiều so với hai tone thực tế). Điều này gọi là âm sắc khác biệt (difference tone). Thông thường, cần phải phân cách những tone ít nhất là 40Hz đến 50Hz mới nghe rõ được sự khác biệt giữa những tone.

 

NẮP CHE LOA GẮN TRẦN TOA CP 77

NẮP CHE LOA GẮN TRẦN TOA CP 77

NĂP CHE LOA GẮN TRẦN TOA CP 77 có các lưới tản nhiệt CP-77 có thể dễ dàng gắn vào loa CM-760 bằng lò xo cuộn dây. Bởi vì nó là độ dày mỏng và màu trắng, nó pha trộn với bất kỳ trần nhà nào. Ngoài ra, rất dễ dàng làm sạch  bởi vì mạng là sơn kim loại.

 

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)