Môi trường nghe (The Listening Environment)

Môi trường âm thanh, biết đến bởi soundpersons (soundman), nhạc sĩ có kinh nghiệm và người nghe sâu sắc khác, có thể có gây ảnh hưởng bức thiết về việc nhận thức được chất lượng âm thanh.

 

Cộng hưởng âm thanh

Cộng hưởng âm thanh tồn tại trong phòng, đặc biệt là những phòng nhỏ, do kích cơ và hình dạng của phòng. Nó có thể có khuynh hướng nêu bật tần số nào đó ở từng vị trí trong phòng. Thông thường, sẽ có khuynh hướng nổi bật tần số thấp khi có bước sóng phù hợp với kích thước của phòng. Trong khi xảy ra cộng hưởng ở những tần số tầm trung (mid-range), cộng hưởng thường có khuynh hướng tập trung quá gần ở tần số không nổi bật hơn những cái khác, ít nhất không do phòng có tính cộng hưởng.

 

Yếu tố liên quan đến cộng hưởng

Có hai điều rất cơ bản liên quan đến cộng hưởng mà người vận hành hệ thống âm thanh (không đề cập đến trình cài đặt hệ thống) nên xem là quan trọng. Thứ nhất: Thế mạnh rõ ràng của bất kỳ cộng hưởng nào sẽ có khuynh hướng thay đổi, tùy thuộc vào vị trí của những người trong phòng, đặc biệt tại vài vị trí, thật sự có khuynh hướng triệt tiêu tần số cộng hưởng. (Thực tế này cho tất cả, nhưng cộng hưởng là mối lo hiển nhiên nhất, nếu không nói là không thể cân bằng (equalize). Và ngay cả những người có khả năng nghe sắc sảo nhất, cũng không thể phân biệt được từ một vị trí trong căn phòng có những đặc điểm cộng hưởng, nhưng tại ở vị trí khác. Hiệu quả của cộng hưởng sẽ khác nhau từ một trong những điểm sau, rõ ràng, người vận hành hệ thống không cần lôi kéo bất cứ ai để có kết luận về cộng hưởng (hay cũng thực vậy, về âm thanh tổng quát) chỉ từ một vị trí.

Thứ hai: người nghe tiếp giáp với tường hay góc có khuynh hướng phải chịu cường độ tối đa của phòng cộng hưởng ở nhiều tần số. Trong vài chuyện khác, điều này có nghĩa một trong số người vận hành hệ thống âm thanh thường quay lưng áp vào tường, đó là vị trí mixer ít phù hợp nhất, đặc biệt nếu nó là tường có độ dội cao và cũng đặc biệt nếu nó nằm ngang trực tiếp qua phòng từ vị trí loa (trái ngược với nghiêng về một bên). Thậm chí nếu tường rất hấp thụ (chẳng hạn như trải thảm hay màn trang trí), cộng hưởng ở tần số thấp thường vẫn sẽ có khuynh hướng dồn lại ở đó. (Có lẽ chỗ vận hành hệ thống âm thanh tồi tệ nhất là giấu mình trong phòng nhỏ có cửa sổ mở bên cạnh, đặc điểm của loại phòng này thường sẽ có khuynh hướng bị cộng hưởng trầm trọng, khác hẳn khi so với những người ở khu vực khán giả. Hệ thống monitor có thể giúp cân bằng tỷ lệ tại phòng như vậy, nhưng sẽ không lập lại tiếng vang mà khán giả nghe được, chuyện này đặt soundperson (man) và người biểu diễn ở thể bất lợi).

 

Phản dội sớm (early reflection)

Khía cạnh âm học trong phòng khá quan trọng tiếp theo là quan tâm đến những cái thường gọi là phản dội sớm (early reflection). Đây là vấn đề ít quan trọng nếu kích cỡ môi trường nghe lớn trung bình, nhưng cũng có thể xảy ra trong hội trường lớn có vòm phản dội trên sân khấu. Về mặt kỹ thuật, không được coi như tiếng vang (reverberation) (ít nhất là không từ quan điểm của người làm âm học) vì nó xảy ra rất nhanh - như tiếng bật ngón tay-, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong cách chúng ta cảm nhận được âm thanh phối hợp với môi trường.

 

Phòng cộng hưởng cơ bản

môi trường nghe (listening environment)

Sẽ xảy ra cộng hưởng trong phòng khi sóng bị phản dội trở lại theo cách nó củng cố sức mạnh lẫn nhau ở vị trí trong phòng nào đó và gần như hoàn toàn triệt tiêu lẫn nhau ở những vị trí khác. Tần số cộng hưởng xảy ra ở chỗ bước sóng bằng kích cỡ một vật liệu cụ thể của phòng, hay nhiều vật bất kỳ. Cái này còn gọi là sóng đứng (standing waves) hay chế độ phòng (room modes). Sóng đứng quan trọng hơn, có khuynh hướng xảy ra ở những tần số thấp.

môi trường nghe (listening environment)

Về cơ bản, tiến trình thính giác tích hợp bất kỳ sự phản dội nào trong 25-30 milli giây đầu tiên (một phần ngàn của một giây) sau khi nghe âm thanh trực tiếp, và nhận thức được bản chất của nó cùng với những âm thanh trực tiếp của chính nó. Đôi khi những phản dội đầu tiên, kết hợp rất nhiều dB lớn hơn những âm thanh trực tiếp từ nguồn, và có thể đóng vai trò chủ yếu trong cách làm lớn âm thanh nói chung ở trong phòng cụ thể.
 

MEGAPHONE TOA ER 520W

 

MEGAPHONE TOA ER 520W

 

Với kích thước và trọng lượng nhỏ, MEGAPHONE CẦM TAY 10W TOA ER 520W có thể dễ dàng cầm trên một bàn ty. Nó cung cấp một giai điệu còi đảm bảo chất lượng âm thanh cao, xử lý các vi khuẩn ở phần miệng khi người khác sử dụng và rất an toàn khi sử dụng

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)