Nhận thức về hướng (The perception of direction)


Khả năng cảm nhận được hướng âm thanh đến là kết quả của cả hai: sự quan hệ phase lẫn cường độ tương đối của những âm thanh ở mỗi tai nhận được.

 

Nhận thức ở các tần số

Ở tần số cao nhất, trong bóng tối, tai nhận ra cường độ âm thanh tần số thấp nhiều hơn, vì sóng cao tần không thể uốn cong hiệu quả chung quanh đầu. Ở giải tần số giữa (mid), có phase khác trong thời điểm đến tai, do sự phân chia thứ hai phải mất thêm một tích tắc để những âm thanh uốn cong chung quanh đầu đến tai hơi xa hơn. Kết hợp với khác biệt nhỏ về cường độ giữa hai tai, cho phép chúng ta xác định vị trí gần đúng của nguồn tần số tầm trung (mid-range).

Tần số thấp (low), thì chúng ta chỉ có thể phân biệt một hướng tổng quát, còn khuynh hướng thì gần như không thể xác định vì có rất ít sự khác biệt trong cả hai: phase lẫn cường độ cho tiến trình nghe chọn lựa. Bước sóng 20ft/6 mét, (55Hz) là một thí dụ, nó dễ uốn cong hoàn toàn trên đầu và về cơ bản không có lệch phase xác đáng nào cho hai tai nghe chênh lệch để có thể giải mã (hầu hết ở khoảng 10°).

Tai của người nghe trung bình điều chỉnh khá tinh vi, trước khi đến tuổi đi học chúng ta có thể xác định hướng, ngay cả trong mặt phẳng thẳng đứng (tức là chiều cao của nguồn), nơi sự khác biệt của phase và cường độ giữa hai tai mỏng manh hơn. Tuy nhiên vẫn có khu vực, nơi mà tiến trình nghe hơi khó cảm nhận được vị trí của nguồn âm thanh theo chiều dọc.

 

Mặt phẳng định vị hóa nguồn âm thanh

nhận thức về hướng (the perception of direction)

Sự lắng nghe âm thanh đến từ mặt phẳng trực tiếp ở phía trước, trên đầu và phía sau có khuynh hướng khó xác định vị trí theo chiều dọc hơn. Điều này đã biết, nói cách khác, mặt phẳng (plane) không phân biệt theo chiều dọc (plane of vertical indiscrimination). Thông thường phải có chuyển động rất nhẹ ở trên đầu mới nhận biết hướng thẳng đứng. Trong cuộc sống, nếu như ngày nào cũng gặp phải âm thanh, và có sự ghi nhận vô thức vị trí rồi sau đó khóa lại nó ở đó.

Đặc tính náy cho phép những người thiết kế hệ thống âm thanh, đặc biệt khi cài đặt ở vị trí cố định, sẽ có lợi thế trong nhiều trường hợp. Nó cho phép cài đặt một hay nhóm loa cùng ở trên một bục giảng, bục thờ hay vị trí diễn giả, và vẫn cho phép tăng cường một phần những ảo ảnh bởi ngày nào cũng gặp phải những hình ảnh trực quan và âm thanh của người nói, nên nghe âm thanh phát ra từ vị trí khán đài, hơn là từ vị trí của loa.

Một đặc tính quan trọng liên quan đến việc nhận thức về hướng, gọi là hiệu ứng thứ bậc, đã hoạt động khi có lượng thời gian trễ giữa sự xuất hiện của âm thanh từ hai nguồn riêng biệt. Chiều cao của nguồn âm thanh ở bất cứ đâu trong mặt phẳng thể hiện trong hình này (chia đều ra hai tai) tương đối khó phân biệt. Khi kết hợp với hình ảnh của người nói (giả định loa gắn bên trong mặt phẳng này), kết quả là những ảo giác thường cảm nhận những âm thanh thật sự đến từ bản thân người nói. Cách tiếp cận này đã được chứng minh là rất hiệu quả trong việc lắp đặt loa cố định cho bục phát biểu.

 

Loa cột TOA TZ-105

Loa cột TOA TZ-105

Loa cột TOA TZ-105  sử dụng nhiều loa côn được sắp xếp theo chiều dọc trên một tấm vách ngăn duy nhất. Cho chất lượng âm thanh tốt, chống chịu được nước có thể đặt dưới hiên nhà. Phù hợp với nhiều hệ thống âm thanh thông báo, nghe nhạc.





 

 

Tin tức

Dịch vụ âm thanh chính hãng

  • Sửa chữa thiết âm thanh hãng TOA
  • Sửa chữa Micro Shure
  • Sửa chữa Mixer Yamaha
  • Sửa chữa Mixer Mackie
  • Sửa chữa đèn sân khấu Beam
  • Sửa chữa loa JBL
  • Sửa chữa thiết bị âm thanh Bosch
  • Tin khác

    Output của bộ khuếch đại công suất
    Vì hầu hết hãng sản xuất bộ khuếch đại công suất đều báo khả năng chịu tải lớn nhất của loa ở 4Ω và 8Ω, sử dụng việc đánh giá trở kháng danh định của loa là tiện lợi.
    Output của bộ khuếch đại công suất
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono).
    Yếu tố quan tâm về mixer
    Một số loại EQ điển hình
    Nghệ thuật của sự cân bằng được nhiều kỹ sư âm thanh xem là thước đo của nghệ thuật kỹ thuật âm thanh.
    Một số loại EQ điển hình
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Phát tán (dispersion) dùng để chỉ khả năng của thiết bị phát tán âm thanh vào một góc nhất định (hy vọng sẽ nhất quán).
    Mô hình kiểm soát phát tán và hướng
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Một thiết kế rack tốt của ba amplifier hai channel có thể xử lý các yêu cầu kích cỡ khiêm tốn cho một hệ thống power-amp ba way hay high-output mono bốn way cùng với hai channel monitor sân khấu cách nối dây cơ bản và đầu nối của rack ampli.
    Tìm hiểu về bộ khuếch đại
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)
    Horn tần số thấp lý tưởng cần phải rất lớn, cân nhắc rất thực tế thường đòi hỏi vài loại thỏa hiệp để phát ra mức độ cao ở tầng âm phổ dưới thấp.
    Loa horn tần số thấp (Low-Frequency Horns)